Trong tháng 4/2026, nhiều quy định mới liên quan dịch vụ thanh toán, giáo dục, phòng cháy chữa cháy, chuyển giao công nghệ, kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp... sẽ chính thức đi vào đời sống, tác động trực tiếp đến đông đảo người dân và tổ chức, doanh nghiệp.
Thành lập, ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg ngày 6/3/2026 thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương.
Quỹ Phòng thủ dân sự trung ương do Bộ Quốc phòng quản lý.
Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài chính; thực hiện chế độ báo cáo, kế toán theo quy định tại Nghị định này và pháp luật liên quan.
Quỹ phải chấp hành việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; công bố công khai về quy chế hoạt động, kết quả hoạt động của Quỹ phòng thủ dân sự, báo cáo tình hình thực hiện quỹ theo quy định tại Quyết định này và pháp luật liên quan.
Nguồn thu của Quỹ từ các nguồn tài chính sau đây: Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; Nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa; Nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ phòng thủ dân sự trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thu lãi từ tài khoản tiền gửi.
Nội dung chi của Quỹ theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 9 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự.
Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 20/4/2026.
Quy định về xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.
Nghị định gồm 6 chương, 44 điều quy định về đối tượng áp dụng, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thi hành hình thức xử phạt trục xuất.
Nghị định này áp dụng đối với các trường hợp sau: Người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị tạm giữ theo thủ tục hành chính; Người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị áp giải; Người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam mà theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải bị trục xuất; Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính; người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm theo quy định; Các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2026 và thay thế Nghị định số 142/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất. Đồng thời, bãi bỏ Điều 66 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.
Quy định quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định: Dữ liệu do cá nhân, tổ chức thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cung cấp cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thông qua một trong các hình thức sau: Trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp hoặc địa điểm khác do người có thẩm quyền quyết định; Thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và ứng dụng khác trên thiết bị di động, số điện thoại đường dây nóng được công bố chính thức; Dịch vụ bưu chính; Kết nối, chia sẻ dữ liệu qua nền tảng số hoặc hệ thống tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có quyền: Cung cấp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc các lực lượng theo quy định; Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Yêu cầu cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thông báo kết quả xác minh, xử lý dữ liệu đã cung cấp bằng văn bản hoặc qua ứng dụng trên môi trường điện tử.
Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có trách nhiệm: Cung cấp đầy đủ thông tin về họ tên, địa chỉ, phương thức liên lạc trong trường hợp cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu cần liên hệ; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, toàn vẹn của dữ liệu đã cung cấp; Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc khi được yêu cầu.
Nghị định quy định thời hạn xác minh không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh được kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh.
Một số quy định mới thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng
Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP ngày 13/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục của Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 7/6/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều phụ lục của Nghị định số 94/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê và Nghị định số 94/2022/NĐ-CP ngày 7/11/2022 của Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tại Nghị định số 13/2026/NĐ-CP, Chính phủ thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng của cơ quan thống kê trung ương so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 7/6/2024, cụ thể như sau:
Số liệu chính thức chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 3 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 3 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP quy định vào ngày 6 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Báo cáo kinh tế - xã hội tháng, quý I, quý II và 6 tháng, quý III và 9 tháng, quý IV và cả năm phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là vào ngày 6 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo).
Nghị định số 13/2026/NĐ-CP cũng đẩy lịch công bố số liệu GDP và GRDP lên sớm hơn so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP. Theo đó, đẩy sớm thời gian công bố số liệu GDP từ ngày mùng 6 lên ngày mùng 3 và thời gian công bố số liệu GRDP từ ngày mùng 1 lên ngày 29 của tháng trước.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2026.
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 6 về vi phạm quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo hướng bổ sung đối tượng "người đứng đầu cơ sở" tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chưa được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ để phù hợp với quy định tại Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.
Theo quy định mới, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e và điểm g khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nhưng chưa có văn bản thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Đối với vi phạm quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung cụm từ "không đủ đối tượng bảo hiểm" tại khoản 1 Điều 17: "Mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc không đủ đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc hoặc không đúng mức phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định đối với cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc" để phù hợp với Điều 35 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP và Điều 23 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP quy định về đối tượng bảo hiểm.
Đồng thời, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Theo quy định mới, hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Siết chặt giao dịch qua tài khoản ngân hàng
Quy định về cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 30/2025, yêu cầu dùng tên thật cho tài khoản ngân hàng.
Theo đó, khoản 2 điều 12 và khoản 5 điều 7 Thông tư 30/2025 bổ sung yêu cầu ngân hàng phải kiểm tra, kiểm soát lệnh thanh toán hợp pháp, hợp lệ. Trong đó, phải bảo đảm tên tài khoản đúng với tên thật trong căn cước công dân/thẻ căn cước tại thỏa thuận mở, sử dụng tài khoản thanh toán của khách hàng khi thực hiện giao dịch thanh toán ở ngân hàng; đồng thời, phải hiển thị đầy đủ trên chứng từ thanh toán.
Thông tư 30/2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2026.
Điều kiện để miễn thi tốt nghiệp THPT môn ngoại ngữ
Quy chế thi tốt nghiệp THPT năm 2026 được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 13/2026.
Thông tư 13/2026 ban hành kèm theo Phụ lục I - danh mục những chứng chỉ ngoại ngữ được dùng để miễn thi môn ngoại ngữ khi xét tốt nghiệp THPT 2026. Theo đó, từ ngày 14-4, danh mục này bổ sung 2 chứng chỉ được miễn thi ngoại ngữ là tiếng Hàn TOPIK và tiếng Anh quốc tế Versant English Placement Test (VEPT).
Với Thông tư 13/2026, số chứng chỉ được chấp nhận dùng để miễn thi ngoại ngữ khi xét tốt nghiệp THPT 2026 được nâng lên 22, gồm chứng chỉ các ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Các chứng chỉ này phải còn hiệu lực đến thời điểm thí sinh làm thủ tục dự thi tốt nghiệp THPT.
Thông tư 13/2026 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 24/4.
Hoàn thiện bộ máy HĐND các cấp trước ngày 1/4
Chỉ thị 08 về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và nâng cao hiệu quả hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 17/3/2026.
Theo Chỉ thị 08, Thủ tướng đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy chuẩn bị tốt công tác nhân sự, bảo đảm bộ máy HĐND các cấp đi vào hoạt động chậm nhất ngày 1-4-2026. Trường hợp chưa thể tổ chức kỳ họp trước ngày 31/3/2026 do chưa bố trí được nhân sự chủ tịch HĐND cấp tỉnh, địa phương phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Chậm nhất là đến 17 giờ ngày 31/3/2026, Bộ Nội vụ phải đôn đốc Thường trực HĐND cấp tỉnh hoàn thiện hồ sơ trình phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch, phó chủ tịch UBND và chủ tịch, phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh.